Các xét nghiệm thường làm đối với một bệnh nhân mắc bệnh Đái tháo đường

Các xét nghiệm chẩn đoán bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ)

Định nghĩa ĐTĐ: ĐTĐ là 1 hội chứng bao gồm nhiều rối loạn mà sự tăng glucose máu là dấu hiệu đặc trưng. ĐTĐ là bệnh mãn tính dẫn đến biến chứng là tổn thương nhiều cơ quan như mắt, thận, TK.

* Để chẩn đoán ĐTĐ nhất định cần dựa vào các xét nghiệm sinh hóa.

* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của WHO năm 1985:

– Glucose huyết tương khi đói >= 7.0 mmol/L

– Glucose huyết tương 2h sau nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống >= 11.1 mmol/L

– Glucose huyết tương ngẫu nhiên >= 11.1 mmol/L có kèm theo triệu chứng kinh điển của ĐTĐ như uống nhiều, tiểu nhiều, gày sút cân.

– HbA1c >= 6.5 0/0 (Tiêu chuẩn ADA – 2010)

* Các xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ:

1. Glucose huyết tương khi đói:

Thử đường máu mao mạch

– BN cần được nhịn ăn, uống (trừ nước) ít nhất 10h trước khi làm xét nghiệm

– Kết quả

+ Glucose<6.1 mmol/L (WHO and IDF) và <5.6 mmol/L (ADA): bình thường

+ Glucose: 6.1 – 6.9: Giảm dung nạp đường huyết đói (IFG)

2. Nghiệm pháp dung nạp Glucose đường uống:

– BN ăn chế độ ăn >250g carbonhydrat trong 3 ngày trước đó. Không sử dụng các chất ảnh hưởng đến chuyển hóa.

– Nhịn ăn, uống (trừ nước) ít nhất 8h trước khi làm nghiệm pháp.

– Lấy mẫu nước tiểu trước khi làm nghiệm pháp tìm glucose niệu và ceton niệu, nếu cả hai dương tính thì không tiếp tục làm nghiệm pháp.

– Lấy máu trước thời điểm làm nghiệm pháp để định lượng glucose (thời điểm 0)

– BN uống 75g glucose trong 200ml nước sau đó nghỉ ở tư thế ngồi. Không hút thuốc lá trong thời gian làm nghiệm pháp

– Xét nghiệm glucose huyết tương tại thời điểm 2h sau uống 75g glucose.

– Kết quả:

+ Glucose <7.8 mmol/L: Bình thường

+ Glucose 7.8 – 11 mmol/L: Giảm dung nạp glucose (IGT)

+ Glucose > 11.1: ĐTĐ

3. XN HbA1c

– Từ năm 2010 ADA đưa thêm tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào HbA1c

– Kết quả:

+ HbA1c < 6.0 %: Bình thường

+ HbA1c 6.0 – 6.49: Tiền ĐTĐ

+ HbA1c >= 6.5: ĐTĐ

4. XN glucose niệu:

– Bình thường glucose niệu khoảng 0.5 mmol/L trong 24h không phát hiện được bằng các xét nghiệm thông thường.

– Khi glucose máu cao hơn ngưỡng lọc của cầu thận (khoảng 9.4 mmol/L) glucose sẽ được đào thải qua nước tiểu.

– Độ nhạy của xét nghiệm không cao, có thể tăng độ nhạy của xét nghiệm bằng cách lấy nước tiểu sau ăn.

– Không được sử dụng làm tiêu chuẩn chẩn doán ĐTĐ

 

* XN chẩn đoán phân biệt ĐTĐ typ 1 và ĐTĐ typ 2:

1. Định lượng insulin

– Có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt ĐTĐ typ 1 và ĐTĐ typ 2 và cả ở những bệnh nhân u tụy

– Bình thường: 20 – 30 mU/mL

Giảm dưới 20 mU/mL ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1, tăng trên 30 mU/mL ở bệnh nhân béo phì, ĐTĐ typ 2 thể béo

2. Định lượng C-peptid

– C-peptid là sản phẩm thoái hóa của proinsulin. Lượng C-peptid tỷ lệ thuận với insulin do tụy bài tiết

– Định lượng C-peptid khi đói sau bữa ăn chuẩn hoặc sau nghiệm pháp glucagon

– Kết quả: lượng C-peptid giảm ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1, bình thường hoặc tăng ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2

Các xét nghiệm theo dõi và quản lí ĐTĐ

1. Fructosamin trong huyết tương

– Fructosamin là sản phẩm glycosyl hóa albumin bởi glucosse không cần enzym. Vì thời gian bán hủy (half-life) của albumin là khoảng 20 ngày nên nồng độ fructosamin phản ánh nồng độ glucossemasu ở thời gian 2 – 3 tuần trước đó

– Nồng độ fructosamin thường gặp ở người bình thường là <285mmol/L, ở bệnh nhân ĐTĐ nồng độ fructosamin tăng tương ứng với nồng độ glucosse trong máu

Nồng độ fructosamin trong máu có ý nghĩa:

–            Đánh giá hồi cứu nồng độ glucosse trong máu trong thời gian trước đó khoảng 2 – 3 tuần

–            Đánh giá kết quả tác dụng của thuốc điều trị ĐTĐ

2. XN HbA1c

– So với xét nghiệm xác định tỉ lệ HbA1c thì fructosamin thăm dò kết quả điều trị được sớm hơn

– HbA1c được tạo thành do phản ứng glycosyl hóa Hb không cần enzym

– Vì đời sống hồng cầu là 120 ngày nên thời gian bán hủy (half-life) của HbA1c là khoảng 60 ngày (2 tháng). Vì vậy, Tỷ lệ HbA1c phản ánh nồng độ glucosse máu ở thời gian 2-3 tháng trước đó

– ở người bình thường tỷ lệ HbA1c là khoảng 4-6%, ở bệnh nhân ĐTĐ tỷ lệ HbA1c tăng

*Tỷ lệ HbA1c có ý nghĩa:

– Đánh giá nồng độ glucose trước đó 2-3 tháng

– Đánh giá tác dụng điều trị trong vòng 1-2 tháng

– Dự báo trước hậu quả thai sản

– Dự báo trước nguy cơ biến chứng

(Kết quả sai lệch nếu bệnh nhân có bệnh Hb bất thường như HbE, HbF, HbS, HbC hoặc thiếu máu).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Có thể bạn quan tâm