CHĂM SÓC TRẺ BỊ BỆNH THẤP TIM

Mục tiêu

1. Nêu được nguyên nhân gây bệnh thấp tim và yếu tố nguy cơ.

2. Trình bày được cơ chế bệnh sinh bệnh thấp tim.

3. Kể được các triệu chứng lâm sàng bệnh thấp tim.

4. Nêu được nguyên tắc điều trị bệnh thấp tim.

5. Trình bày được các biện pháp phòng chống bệnh thấp tim.

6. Lập luận và nêu lên được các chẩn đoán điều dưỡng ở bệnh nhi thấp tim.

7. Lập và thực hiện được kế hoạch chăm sóc trẻ bị bệnh thấp tim.

Nội dung

  1. Đại cương

– Thấp tim là một bệnh nhiễm trùng – nhiễm độc – miễn dịch, xảy ra sau nhiễm liên cầu trùng β tan huyết nhóm A, biểu hiện bằng những tổn thương viêm ở hệ thống tổ chức liên kết, trong đó nơi hay bị tổn thương nhất là tim, khớp và mạch máu.

benh thap_tim

Bệnh thấp tim

– Từ năm 460 – 377 trước công nguyên Hyppocrat đã mô tả bệnh viêm đa khớp thấp (polyartrite rhumatique) là bệnh viêm nhiều khớp di chuyển với biểu hiện sưng, đỏ và rất đau ở khớp,  không gây nguy hiểm cho cuộc sống của người  bệnh và hay gặp ở người  trẻ tuổi. Từ đó người  ta coi đây là bệnh của khớp.  Do vậy đã tồn tại hàng trăm năm tên gọi “Thấp khớp cấp (RAA – Rhumatisme Articulaire Aigu)” hoặc “Sốt thấp (Rheumatic fever)”. Trên thực tế thì tổn thương  sưng, nóng, đỏ, đau ở khớp sẽ hết nhanh sau 3 – 7 ngày, cho dù không dùng bất cứ một phương pháp điều trị gì, hơn nữa đây không phải là bệnh cấp tính.

-Vào năm 1835 – 1836, Bouillaud và Sokonsky, không phụ thuộc vào nhau, qua nghiên cứu trên giải phẫu bệnh và lâm sàng đã đưa ra kết luận về tổn thương chủ yếu của bệnh là ở tim, ở mao mạch và đề nghị xếp bệnh  “Thấp khớp cấp” vào nhóm bệnh tim mạch. Hơn nữa, tổn thương viêm cơ tim, viêm màng trong tim không chỉ hay gặp nhất mà còn để lại di chứng nặng nề, dễ gây tử vong và làm cho bệnh nhân trở thành tàn phế. Do vậy, trong y văn thường có tên gọi “Rhumatismus”, “Thấp tim” hay bệnh Bouillaud-Sokonsky.

– Thấp tim là bệnh của trẻ em, hay gặp nhất ở trẻ từ 9 – 12 tuổi. Hở, hẹp van tim ở người lớn chỉ là hậu quả, là di chứng của thấp tim ở thời niên thiếu.

  1. Nguyên nhân

2.1. Nguyên nhân

Thấp tim chỉ xảy ra sau khi trẻ bị viêm họng, viêm Amydal do liên cầu trùng β tan huyết nhóm A.

2.2. Yếu tố nguy cơ

Không phải bất kỳ trẻ em nào nhiễm liên cầu trùng β tan huyết nhóm A cũng bị bệnh thấp tim. Trong số 90 – 95% trẻ em bị viêm họng do liên cầu, chỉ có 0,2 -3% trẻ bị thấp tim. Những yếu tố nguy cơ cần lưu ý là:

– Về tuổi: thường gặp ở trẻ từ 7 – 15 tuổi, nhất là trẻ từ  9 – 12 tuổi.

– Cơ địa: Thấp tim thường ở trẻ có cơ địa dị ứng như hay bị mề đay, hen phế quản, chàm.

– Yếu tố gia đình: Theo các tác giả thì có từ 5,8%  (Samnpson) đến 73,3% (Gold) bệnh nhân thấp tim, trong tiền sử có người nhà (bố, mẹ, anh, chị em ruột) cũng bị thấp tim. Theo Cheadle thì trẻ trong “gia đình thấp”  có nguy cơ bị thấp  tim nhiều hơn gấp 5 lần so với trẻ trong gia đình khoẻ mạnh.

– Điều kiện sinh hoạt thấp: nhà ở chật chội, vệ sinh kém, kinh tế khó khăn.

– Mùa: có khí hậu lạnh, ẩm. Đây là điều kiện để trẻ dễ bị viêm họng.

  1. Cơ chế bệnh sinh

Nguyên  nhân bệnh thấp tim là do liên cầu trùng β tan máu nhóm A được  mọi người  thừa nhận. Song về cơ chế bệnh sinh đến nay còn nhiều bàn cãi. Tuy vậy, hiện nay cơ chế nhiễm trùng – nhiễm độc – miễn dịch được nhiều người  công nhận nhất. Bản chất của cơ chế nhiễm trùng – nhiễm độc – miễn dịch là trên màng liên cầu trùng có thành phần mang tính kháng nguyên và cấu trúc hoá học của nó giống với tổ chức cơ tim. Khi cơ thể bị nhiễm liên cầu thì các kháng nguyên liên cầu kích thích hệ thống đáp ứng miễn dịch của cơ thể sinh ra các kháng thể tương ứng. Các kháng thể này sẽ kết hợp với các kháng nguyên liên cầu, đồng thời cũng kết hợp luôn với tổ chức cơ tim. Chính phản ứng này gây nên hiện tượng viêm dị ứng hay viêm “miễn dịch” tại tim.

Mặt khác, liên cầu còn có thành phần gây tan máu. Do vậy, trẻ bị thấp  tim thường có dấu hiệu da xanh tái – một trong những biểu hiện của tình trạng nhiễm độc, thiếu máu. Như vậy, đối với bệnh nhân thấp tim thì cứ sau mỗi lần nhiễm liên cầu, nguy cơ viêm miễn dịch lại xảy ra, bệnh lại nặng thêm. Đây là cơ sở để  giải thích tại sao thấp tim là một bệnh hay tái phát.

Nghiên cứu tổn thương giải phẫu bệnh trong bệnh thấp tim đóng một vai trò quan trọng trong việc đem lại kết quả điều trị và chăm sóc cho bệnh nhân. Tổn thương giải phẫu bệnh được chia ra làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Là giai đoạn tích luỹ các chất mucopolysacarid, acid hyaluronic và chondroitin sulfat trong tổ chức liên kết gây nên tình trạng phù nề các chất mucoid và thoái hoá các chất cơ bản của tổ chức liên kết. Những tổn thương này có thể hồi phục được hoàn toàn. Giai đoạn này kéo dài từ 10 đến 12 ngày.

Giai đoạn 2: Là giai đoạn thoái hoá các sợi dây hồ của tổ chức liên kết: Có sự tích tụ fibrinoid trong các chất cơ bản của tổ chức liên kết và trong thành mạch kèm theo có hiện tượng hoại tử. Do vậy, việc hồi phục sau điều trị ở giai đoạn này là không hoàn toàn. Giai đoạn này kéo dài từ 30 đến 45 ngày.

Giai đoạn 3: Là giai đoạn tăng sinh và tạo ra các hạt thấp trong tổ chức liên kết ở cơ tim. Giai đoạn này kéo dài 3 – 4 tháng. Khi giai đoạn này xảy ra thì sẽ tiếp tục dẫn đến giai đoạn 4.

Giai đoạn 4: Là giai đoạn xơ hoá tổ chức kiên kết,  hình thành các di chứng van tim. Như vậy, để hình thành di chứng van tim cần phải trải qua 6 tháng đến 1 năm.

Qua nghiên cứu 4 giai đoạn tổn thương giải phẫu bệnh, chúng ta thấy rằng: Để đảm bảo cho bệnh nhân thấp tim có thể khỏi hẳn, không bị các di chứng  van tim thì việc điều trị tích cực ngay trong giai đoạn 1 là một trong các yếu tố quan trọng nhất. Việc chậm trễ điều trị cho bệnh nhân thấp tim vì bất cứ lý do nào cũng đều có thể để lại di chứng van tim – hậu quả nặng nề nhất dẫn đến tàn phế, giảm tuổi thọ hoặc tử vong.


Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

Sơ đồ 1: Cơ chế bệnh sinh bệnh thấp tim

 

Biểu hiện lâm sàng bệnh thấp tim thường xảy ra sau 2 – 4 tuần hoặc lâu hơn nữa kể từ khi trẻ bị nhiễm liên cầu ở hầu họng. Các biểu hiện này có thể xuất hiện độc lập hay phối hợp với nhau.

4.1.Viêm khớp

4.1.1. Thể điển hình

– Biểu hiện của viêm khớp: sưng, nóng, đỏ, đau, vận động hạn chế.

– Viêm nhiều khớp (còn gọi là đa khớp) và viêm các khớp lớn như khớp cổ chân, cổ tay, khớp gối, khuỷu tay …

– Viêm khớp có tính chất di chuyển: Khi khớp này đỡ thì lại xuất hiên viêm ở khớp khác.

– Khỏi nhanh (không dùng thuốc gì cũng khỏi): Thời gian viêm của mỗi khớp thường từ 3 – 7 ngày, không bao giờ kéo dài quá 1 tháng.

– Sau khi khỏi không để lại di chứng gì (như cứng khớp, teo cơ).

4.1.2. Thể không điển hình

Viêm khớp chỉ biểu hiện bằng triệu chứng đau, mỏi khớp;  không có biểu hiện sưng, nóng, đỏ. Hơn nữa, có tới 25 – 60% bệnh nhân thấp tim lại không có biểu hiện viêm khớp. Do vậy rất khó chẩn đoán sớm bệnh thấp tim.

– Có thể bị viêm các khớp nhỏ như khớp ngón tay, ngón  chân…

4.2. Viêm tim

– Viêm cơ tim là tổn thương hay gặp nhất trong bệnh thấp tim (100%). Tuy vậy, trên lâm sàng việc xác định viêm cơ tim là rất khó, nhất là trong trường hợp  viêm tim nhẹ. Biểu hiện của viêm cơ tim là: đau ngực vùng trước tim, tim đập nhanh, loạn nhịp, tiếng T1 mờ, có tiếng thổi tâm thu ở mỏm tim, diện đục của tim to. Bệnh nhân mệt mỏi, da xanh. Nếu viêm cơ tim nặng sẽ dẫn đến suy tim cấp (khó thở, tím tái, phù,  đái ít…) và tử vong.

– Viêm màng trong tim (nội tâm mạc): Thường xảy ra sau vài tuần kể từ khi bị viêm cơ tim do điều trị muộn hoặc điều trị không tích cực.Viêm nội tâm mạc  là nguyên nhân dẫn đến các di chứng van tim mà di chứng hay gặp nhất là hở van 2 lá, sau đó là hẹp van 2 lá và hở van động mạch chủ. Các di chứng này chính là bệnh van tim ở trẻ lớn và người  lớn,  là các nguyên  nhân gây suy tim mạn, giảm khả năng lao động, giảm tuổi thọ và gây tử vong. Chẩn đoán lâm sàng bệnh van tim chủ yếu dựa vào các dấu hiệu nghe tim: Tiếng thổi và tiếng tim. Tiếng thổi tâm thu ở mỏm và tiếng T2 ở ổ van động mạch phổi mạnh gặp trong trường hợp hở van 2 lá. Tiếng rung tâm chương ở mỏm tim và tiếng T 2 ở ổ van động mạch phổi mạnh, tách đôi gặp trong trường hợp hẹp van 2 lá. Trong trường hợp bị hở van động mạch chủ ta nghe thấy tiếng thổi tâm chương ở khoang liên  sườn  3 bên  trái  xương  ức, HA tối thiểu thấp, HA mạch  tăng, tiếng T2 ở ổ van động mạch chủ mờ. Trong bệnh van tim, khi có biểu hiện suy tim sẽ có các triệu chứng khó thở, phù, đái ít.

– Viêm màng ngoài tim:  ít gặp hơn, thường có tràn dịch ít, dịch giảm nhanh khi dùng Corticoide và sau khi khỏi không để lại di chứng gì. Chẩn đoán viêm màng ngoài tim dựa vào các dấu hiệu đau ngực, khó thở, HA kẹt, mạch nhanh nhỏ, nghe có tiếng tim mờ, có thể có tiếng cọ màng ngoài tim, diện tim to, chiếu X  – quang thấy bóng tim to, tim bóp yếu.

– Viêm tim toàn bộ: là tổn thương viêm ở cơ tim, ở màng trong tim và màng ngoài tim. Bệnh rất nặng và hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 7 tuổi, không được điều trị sớm  và tích cực. Diễn biến của bệnh thường dẫn đến suy tim nặng và tử vong nhanh.

4.3. Tổn thương ở da

Hiện nay rất ít gặp những tổn thương ở da mà các tác giả trước đây đã nêu:

– Hạt Meinet: Là hạt cứng to bằng hạt ngô, hạt đỗ, sờ vào không đau, thường  nằm ở quanh khớp  hoặc dọc cột sống. Chúng tồn tại từ 1 -2 tuần đến 1-2 tháng rồi mất đi không để lại dấu vết gì.

– Ban vòng Lendoch – Leyner và hồng ban Besnier: vòng ban màu đỏ đường kính trung bình 1 – 3 cm hoặc ban đỏ nhạt màu ở giữa, thấy ở ngực, cổ, lưng, mặt trong đùi, không đau, không ngứa, thay đổi màu  theo nhiệt độ của cơ thể và nhiệt độ môi trường, mất đi nhanh không để lại di chứng.

4.4. Biểu hiện ở thần kinh (choreé  Sydenham)

Là biểu hiện múa giật Sydenham, hay xuất hiện ở trẻ gái. Đây là các vận động nhanh không tự chủ, thiếu định hướng, không mục đích, tăng khi xúc động, mất đi khi ngủ. Múa giật có thể xuất hiện toàn thân, nửa người hay ở  chi.

Biểu hiện trên lâm sàng là trẻ có những động tác bất thường, tay quờ quạng, khi ăn hay bị rơi vãi, viết chữ nguệch ngoạc, nhiều khi không thể viết được, đôi khi không thể đi lại được.

Trước khi múa giật thường có rối loạn tâm thần như: cáu gắt, hay xúc động.

Múa giật có diễn biến lành tính: trẻ vẫn tỉnh táo, khỏi không để lại di chứng.

4.5. Biểu hiện ở nơi khác

– Viêm cầu thận có thể gặp trong bệnh thấp tim: trẻ có phù, đái ít, nước tiểu có protein và hồng cầu. Các triệu chứng này mất nhanh.

– Viêm phổi thường tập trung ở thuỳ dưới, tiến triển nhanh.

– Viêm gan cấp có thể là triệu chứng của bệnh thấp.

– Tổn thương mạch máu: biểu hiện bằng các chấm, nốt xuất huyết trên da hoặc chảy máu mũi.

4.6. Triệu chứng cận lâm sàng

– Xét nghiệm công thức máu thường có bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân  trung tính tăng.

– Máu lắng tăng.

– C-reative protein (+).

– Sự thay đổi về số lượng các mucoprotein trong máu:

+ DPA tăng (bình thường: <220 đv).

+ AC tăng (bình thường <200 đv).

– Kháng thể kháng liên cầu tăng:

+ ASLO tăng (Anti Streptolyzin- O) tăng > 250đv Todd/ml huyết thanh.

+ ASK (Antistreptokinase) tăng.

+ AH (Antihyaluronidase) tăng.

– Chiếu X-quang: Thấy diện tim to, sức bóp của cơ tim yếu, tràn dịch màng ngoài tim, phổi ứ huyết.

– Điện tâm đồ: PQ kéo dài trên 0,18’’.

– Siêu âm tim: Có thể xác định được viêm cơ tim, dày cơ tim, viêm màng ngoài tim, tổn thương van tim.

– Cấy nhớt họng thấy mọc liên cầu trùng β tan máu nhóm A.

  1. Điều trị

5.1. Diệt liên cầu trùng bằng kháng sinh

Penicilin G 1.000.000 đv/ ngày, Tiêm bắp chia 2 lần cách nhau 12 giờ (thử phản ứng trước khi tiêm) hoặc Penixilin viên uống lúc đói trước bữa ăn 1 giờ trong thời gian 10 ngày. Sau đó chuyể n ngay sang liều dự phòng.

Nếu dị ứng Penicilin có thể thay bằng kháng sinh khác có tác dụng diệt liên cầu như Erythromyxin, Rovamycin…

5.2. Chống viêm

– Pretnisolon 2 mg/kg/24h uống lúc no, chia 3 lần:

+ Sáng uống 1/2 liều.

+ Giữa buổi sáng uống 1/4 liều.

+ Trưa uống 1/4 liều.

Prednisolon liều 2mg/kg/ngày dùng trong 1 – 2 tuần hoặc 3 tuần, sau đó liều giảm dần: Cứ 3 – 5 – 7 ngày giảm đi 1 viên sao cho thời gian dùng corticoid có thể kéo dài được 45 ngày.

– Aspirin :

+ 100 mg/kg/ngày uống chia 2 l ần sau khi ăn no, kéo dài trong thời gian 4 tuần. Sau đó giảm liều.

+ 60mg/kg cơ thể, uống chia 2 lần sau khi ăn no, liên tục trong thời gian 2 tháng.

5.3. Suy tim

– Nhịp tim nhanh: Digoxin 0,01mg/kg/24h, uống theo chỉ định của thày thuốc và phải theo dõi mạch trong suốt thời gian dùng. Nếu mạch chậm hoặc nhanh lên là dấu hiệu ngộ độc, phải báo thày thuốc. Nếu dùng Digoxin tiêm tĩnh mạch thì phải kiểm tra mạch trước và trong khi tiêm.

–  Lợi tiểu được dùng khi bệnh nhân có phù: Furocemid  2mg/kg/24h,  hoặc Hypothiazid 4mg/kg/ngày. Đôi khi có thể dùng lợi tiểu thuỷ ngân như  Novurit (nếu chức năng thận bình thường).

5.4. Thể múa  giật

Dùng Seduxen, Dimedron và Vitamin nhóm B như B1, B6.

  1. Phòng bệnh

6.1. Phòng  bệnh tiên phát áp dụng cho trẻ chưa bị bệnh  thấp tim:

– Hạn chế mọi khả năng gây viêm hầu họng do liên cầu: như vệ sinh răng miệng hàng ngày, chữa răng sâu, giữ ấm cho trẻ, ăn uống đầy đủ nhất là chất đạm.

– Nếu bị viêm hầu họng: phải phát hiện kịp thời và điều trị ngay bằng Penixilin trong thời gian 10 ngày liền hoặc Penicilin Benzathin tiêm mông 1lần 1.200.000 đv cho trẻ >6 tuổi; 600.000 đv cho trẻ <6 tuổi.

– Cắt Amydal: Trẻ trên 12 tuổi có amydal to, viêm tái phát nhiều lần.

6.2. Phòng tái phát áp dụng cho trẻ đã bị thấp tim:

Dùng kháng sinh diệt liên cầu ít nhất trong vòng 5 năm và cho đến khi bệnh nhân tròn 23 tuổi để phòng tái phát:

+  Tiêm  bắp  sâu  (tiêm  mông)  21  ngày/1 mũi  Penixilin  thải  trừ  chậm: Penicilin Benzathin (Retapen, Extencilin).

+ Hoặc có thể uống Penicilin viên lúc đói, mỗi ngày 200.000 đv.

– Hướng dẫn để bệnh nhân có ý thức đề  phòng viêm mũi họng như  vệ sinh răng miệng, tránh nhiễm lạnh, ăn uống đầy đủ các chất.

  1. Chăm sóc

7.1.  Nhận  định

– Khai thác kỹ tiền sử thấp tim:

+ Tiền sử viêm họng, viêm amidal.

+ Tiền sử viêm khớp, đau khớp di chuyển.

+ Tiền sứ múa giật.

+ Tiền sử gia đình có người bị thấp tim hoặc bệnh van tim.

– Thăm khám để phát hiện các triệu chứng thấp tim:

+ Viêm khớp: tính chất, vị trí.

+ Viêm tim: Đau ngực vùng trước tim, khó thở, phù,  gan to, cổ chướng, tím tái, mạch nhanh loạn nhịp, tiếng tim mờ, tiếng thổi, tiếng cọ màng ngoài tim, tiếng nhựa phi, diện tim to, kết quả điện tâm đồ, siêu âm…

+ Múa giật.

+ Các  biểu hiện khác ở da (hạt thấp, ban vòng, hồng ban, chấm nốt xuất huyết), chảy máu cam, viêm cầu thận, viêm phổi, sốt, mệt mỏi, da xanh…

7.2. Kế hoạch chăm sóc

Dựa vào nhận định trên bệnh nhân, người điều dưỡng có thể đưa ra những chẩn đoán chăm sóc cụ thể, từ đó nêu lên mục tiêu và những can thiệp điều dưỡng cần thiết.

Đối với bệnh  nhân thấp tim, những chẩn đoán điều dưỡng và những can thiệp điều dưỡng cần thiết thường gặp là:

7.2.1. Khó thở, tím tái (phù) do suy tim

Biểu hiện của suy tim như khó thở, tím tái có thể xuất hiện thường xuyên hoặc sau khi gắng sức (đi lên cầu thang, lao động chân tay…) phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của suy tim. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác của suy tim như phù, đái ít, mệt mỏi… Trên lâm sàng thường chia ra 3 mức độ suy tim: Độ I, Độ II, Độ IIIA và Độ IIIB. Do vậy, kế hoạch chăm sóc cũng phụ thuộc vào  mức độ suy tim của bệnh nhân:

– Giảm gánh nặng cho tim:

+ Để bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường  nhằm giảm nhu cầu về oxy và dinh dưỡng của cơ thể. Hạn chế đi lại cho những bệnh nhân khó thở khi gắng sức.

+ Ăn nhẹ, ăn các loại thức ăn dễ tiêu như sữa, cá.

+ Hạn chế lượng muối và nước bằng cách khuyên bệnh nhân ăn nhạt tương đối và hạn chế uống nước.

+ Thường xuyên động viên, giải thích để bệnh nhân không lo lắng, yên tâm điều trị, có nghĩa là để bệnh nhân được nghỉ ngơi, thoải mái cả về thể chất và tinh thần, tránh căng thẳng về thần kinh.

+ Có thể  để trẻ nằm ở tư thế Foller đối với trường hợp khó thở, tím tái nhiều và thường xuyên, nhằm làm giảm lượng máu ứ đọng ở phổi.

– Phòng nằm của bệnh nhân phải đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt.

– Hướng dẫn cho bệnh  nhân  và theo dõi việc  thực hiện các chỉ  định  của thầy thuốc về chế độ ăn, uống.

– Thực hiện thuốc theo y lệnh (thuốc Digoxin, Digitoxin, thuốc lợi tiểu, muối kali…). Hướng dẫn để bệnh nhân ăn những loại hoa quả có nhiều kali trong suốt thời gian dùng lợi tiểu và Digoxin.

– Hàng ngày phải theo dõi tiến triển của các triệu chứng suy tim, hiệu quả và các tác dụng phụ của thuốc để có thể đưa ra những can thiệp chính xác, kịp thời.

7.2.2. Đau tức ngực do viêm tim

Chẩn đoán “Đau tức ngực do viêm tim” được nêu lên khi bệnh nhân kêu đau ngực vùng trước tim, mạch nhanh, nhịp không đều hoặc có tiếng ngựa phi, tiếng T1 mờ, tiếng thổi tâm thu ở mỏm, diện tim to, có tiếng cọ màng ngoài tim…phụ thuộc vào bệnh nhân có viêm cơ tim kết hợp với viêm nội tâm mạc, viêm màng ngoài tim hay viêm tim toàn bộ.

Can thiệp điều dưỡng:

– Để bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường nhằm giảm nhu cầu về oxy và dinh dưỡng của cơ thể. Hạn chế việc đi lại của bệnh nhân  nhằm đề phòng suy tim.

– Phòng nằm của bệnh nhân phải đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt.

– Thường  xuyên động viên, giải thích để bệnh nhân không phải lo lắng, yên tâm điều trị, có nghĩa là để bệnh nhân được nghỉ ngơi, thoải mái cả về thể chất và tinh thần.

– Hướng dẫn cho bệnh  nhân ăn các loại  thức ăn dễ  tiêu,  đầy  đủ các chất dinh dưỡng và vitamin.

– Thực hiện y lệnh về việc dùng thuốc chống viêm (thuốc Prednisolon, Aspirin), hướng dẫn và động viên để bệnh nhân uống thuốc đúng, đủ liều lượng và đủ thời gian theo y lệnh.

7.2.3. Đau mỏi khớp, vận động khó khăn (sưng, nóng, đỏ) do viêm khớp

Để xác định viêm khớp do thấp tim, ngoài các dấu hiệu sưng  nóng đỏ đau, các tính chất khác như viêm khớp di chuyển và thời gian viêm mỗi khớp  ngắn (3 – 7 ngày) là vô cùng  quan trọng. Tuy vậy, ý nghĩa của chẩn đoán này không phải ở chỗ là khớp có viêm hay không, mà là ở chỗ nhờ có triệu chứng viêm khớp  mà chẩn đoán thấp tim được xác định dễ dàng hơn.

Can thiệp điều dưỡng:

– Thực hiện y lệnh về việc sử dụng thuốc chống viêm (Prednisolon, Aspirin): Uống như  thế nào, uống lúc nào, liều lượng, số lần uống/ngày, thời gian phải dùng thuốc… Hướng dẫn uống thuốc đúng để đề phòng các tác dụng phụ của thuốc và theo dõi sự xuất hiện những t dụng phụ đó.

– Hướng dẫn bệnh nhân nằm nghỉ ngơi ở tư thế chùng cơ, giảm căng bao khớp, hạn chế vận động khớp ở mức thấp nhất, cách đi lại, vận động để có thể giảm đau cho người bệnh và để họ yên tâm, tin tưởng vào điều trị (không cần xoa bóp hay xử trí gì khác như chườm nóng, lạnh hay cố định khớp).

7.2.4. Bệnh nhân phàn nàn về những  vận động bất thường, thiếu định hướng do có tổn thương viêm ở hệ thần kinh.

Xác định chẩn đoán này dựa vào việc đi lại khó khăn, viết khó, chữ viết nguệch ngoạc, ăn cơm bị rơi vãi…

Can thiệp điều dưỡng:

– Động viên, giải thích để bệnh nhân không lo sợ, yên tâm tin tưởng vào điều trị. Những biểu hiện trên sẽ hết hoàn toàn, nhưng có thể kéo dài tới 1 – 3 tháng.

– Kiên trì dùng thuốc theo y lệnh, ngoài các thuốc chống viêm còn phải dùng các vitamin nhóm B như B1, B6, B12 và thuốc an thần, kháng Histamin như  Seduxen, Dimedron.

– Phải có người thường trực chăm sóc cho bệnh nhân nhằm giúp cho bệnh nhân đi lại, vệ sinh, ăn uống…

7.2.5. Sốt, đau họng do viêm nhiễm ở họng hoặc Amydal .

Xác định chẩn đoán này dựa vào thân nhiệt của bệnh nhân tăng trên  37o5, kèm theo có các triệu chứng như đau họng, đau đầu, ho. Khám thấy họng tấy đỏ, đôi khi có mủ trắng  hoặc có nhiều hạt đỏ ở thành sau họng, amydal sưng to, nuốt đau .

Can thiệp điều dưỡng à:

– Thực hiện y lệnh về việc dùng Penicilin.

– Dùng thuốc hạ sốt khi thân nhiệt tăng cao trên 38,50 C.

– Hướng dẫn bệnh nhân thường xuyên vệ sinh răng miệng, tránh nhiễm lạnh, ăn uống đầy đủ các chất nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

7.2.6. Gia đình và bệnh nhân kêu ca, phàn nàn về việc nằm điều trị quá lâu do hiểu biết chưa đầy đủ về tầm quan trọng của bệnh

– Giải thích cho bệnh nhân và người nhà hiểu tình trạng hiện tại của bệnh nhân để có sự tham gia tích cực trong điều trị.

– Nêu các di chứng van tim có thể xảy ra và hậu quả của chúng nếu điều trị không kịp thời, không tích cực, không đủ thời gian.

– Giải thích về sự cần thiết phải nghỉ ngơi, phải hạn chế vận động nhằm giảm sự gắng sức của cơ tim, tránh đượ c tình trạng suy tim cấp và giúp cho bệnh nhân hồi phục nhanh.

– Giải thích để bệnh nhân có thể giảm bớt sự lo lắng, tin tưởng, an tâm hơn trong điều trị.

– Giải thích để  bệnh nhân và gia đình hiểu được nguyên nhân gây tái phát và sự hình thành các di chứng van tim cũng như tình trạng nặng lên của bệnh sau mỗi đợt tái phát. Bệnh nhân và gia đình sẽ tích cực tham gia vào việc phòng tái phát khi đã hiểu được nguyên nhân.

– Hướng dẫn để gia đình và bệnh nhân tham gia tích cực vào việc phòng tái phát bệnh thấp tim:

+ Thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng bệnh thấp:

* Tiêm Penicilin Benzathin được bắt đầu ngay sau khi kết thúc 10 ngày dùng Benzylpenicilin.

* Các mũi tiêm phòng cách nhau 21 ngày.

* Thời gian tiêm  phòng phải đảm bảo được 5 năm trở lên và cho đến khi bệnh nhân tròn 23 tuổi.

+ Thường xuyên vệ sinh răng, miệng, mũi, họng nhằm ngăn ngừa các nhiễm trùng do liên cầu.

+ Tránh nhiễm lạnh, ăn uống đầy đủ nhằm không ngừng nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.

– Hướng dẫn để gia đình có thể phòng bệnh thấp tim cho trẻ khác trong gia đình mình (phòng tiên phát).

[office src=”https://onedrive.live.com/embed?cid=C8F6B54C99F97551&resid=C8F6B54C99F97551%212831&authkey=ADAwCIP9PQMeDRk&em=2&wdStartOn=1″]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Có thể bạn quan tâm