Ối vỡ sớm, ối vỡ non

Ối vỡ sớm

  • Ối vỡ sớm vốn là 1 thuật ngữ của các tác giả Pháp đưa ra (rupture précoce des membranes, avant la dilatation complète du col), nghĩa là ối vỡ xảy ra sau hoặc cùng lúc với chuyển dạ, trước khi cổ tử cung mở trọn. Vì không có nhiều ý nghĩa trên lâm sàng nên hiện nay thuât ngữ này không còn được nhắc đến trong y văn hiện thời ở nước ngoài.
  • Premature rupture of membranes (PROM): Vỡ ối non là vỡ tự nhiên của màng ối và màng đệm tại bất kì thời điểm nào trước khi có chuyển dạ [5]
  • Spontaneous premature rupture of membranes (Spontaneous PROM) là ối vỡ non tự phát, nhằm phân biệt với ối vỡ non do can thiệp (Iatrogenic PROM), ví dụ sau thủ thuật chọc ối, do khám làm vỡ ối,…
  • Preterm premature rupture of membranes (PPROM): Vỡ ối non trước 37 tuần thai kì [17]
  • Prolonged rupture of the membranes: Ối vỡ > 24 giờ mới vào chuyển dạ

NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ THUẬN LỢI [2] [5] [8] [14] [17]

Màng thai cấu tạo gồm 3 lớp là màng ối, màng đệm và màng rụng. Trong đó lớp màng ối dính sát với lớp màng đệm nhờ các mô liên kết giàu collagen và chất nền gian bào làm tăng độ bền của các màng thai. Sự thay đổi của chất nền gian bào và các mô liên kết nói trên thay đổi theo tuổi thai, làm cho các màng thai giảm dần độ bền, đến khi vào chuyển dạ, đặc biệt là chuyển dạ hoạt động, dưới tác động của cơn gò và sức rặn của người mẹ sẽ dẫn đến vỡ tự nhiên các màng thai. Như vậy, trong thai kì, tất cả các tác nhân làm thay đổi độ bền của các màng thai hoặc gia tăng áp lực buồng ối sẽ dẫn đến vỡ ối trước khi chuyển dạ xảy ra [14].

1. Giảm độ bền của các màng thai: do tác nhân nhiễm trùng, viêm nhiễm mãn tính tiết men tiêu hủy collagen hoặc do khiếm khuyết tại chỗ của màng thai → giảm collagen → giảm độ bền của màng ối [5]

  • Mẹ:

o    Nhiễm trùng âm đạo, cổ tử cung, tử cung: đặc biệt là Neisseria gonorrhoeae, Chlamydia trachomatis, Trichomonas vaginalis, và Group B Beta-hemolytic streptococci (GBS), các vi khuẩn kị khí, các tác nhân lây qua đường tình dục,… [14]

o    Viêm đường tiết niệu

o    Mẹ nhẹ cân, thiếu dinh dưỡng, hút thuốc lá, kinh tế kém

  • Phần phụ:

o    Xuất huyết trong 3 tháng đầu thai kì [13]

o    Rau bong non

2. Do tăng áp lực buồng ối

  • Mẹ:

o    Chấn thương

o    Tử cung dị dạng

o    Chiều dài kênh cổ tử cung ngắn < 25mm [15]

o    Fetal fibronectin (+) qua dịch phết âm đạo [15]

o    Hở eo tử cung – khâu eo tử cung

o    Khoét chóp

o    Khung chậu hẹp

  • Thai:

o    Ngôi bất thường

o    Thai dị dạng

o    Đa thai

  • Phần phụ: Đa ối

3. Yếu tố khác: Tiền sử đẻ non, ối vỡ non

Nghiên cứu của Mercer BM và cộng sự cho thấy sự kết hợp giữa tiền sử thai kì trước có ối vỡ non, và thai kì lần này có chiều dài kênh cổ tử cung ngắn qua siêu âm, và Fetal Fibronectin (+) qua dịch phết âm đạo cho thấy làm tăng nguy cơ vỡ ối non trước 35 tuần gấp 10 lần (Bảng 1) [15]

Bảng 1 – So sánh nguy cơ vỡ ối non trước 35 tuần và trước 37 tuần thai kì dựa trên 3 yếu tố: tiền sử ối vỡ non, chiều dài kênh cổ tử cung và Fetal Fibronectin

 

Ối vỡ non Trước 37 tuần (%) Trước 35 tuần (%)
Thai kì trước có Ối vỡ non 10.5 4.8 %
Thai kì trước có Ối vỡ non và thai kì này có Fetal Fibronectin (+) 15.4 15.4
Thai kì trước có Ối vỡ non và thai kì này siêu âm lúc thai 22 – 24 tuần đo chiều dài kênh cổ tử cung ngắn 23.1 15.4
Kết hợp cả 3 yếu tố 25.0 25.0

 

DIỄN TIẾN TỰ NHIÊN CỦA ỐI VỠ NON [5] [8] [14] [17]

  • Chuyển dạ tự nhiên: thai càng non tháng càng kéo dài thời gian tiềm thời, phần lớn các thai đủ trưởng thành sẽ chuyển dạ tự nhiên trong trong 24 giờ:

o    50% trường hợp vỡ ối sau 37 tuần sẽ tự vào chuyển dạ trong vòng 5 giờ [9].

o    Vỡ ối từ 32 – 34 tuần trung bình 4 ngày sản phụ sẽ vào chuyển dạ và 93% trường hợp sinh trong vòng 1 tuần [9].

  • Nguy cơ ối vỡ lâu:

o    Nhiễm trùng ối, nhiễm trùng hậu sản – viêm nội mạc tử cung

o    Thiểu ối → thiểu sản phổi, biến dạng chi, chèn ép rốn,…

o    Rau bong non

o    Thai chết trong tử cung

o    Suy hô hấp sơ sinh (PPROM)

TIẾP CẬN ỐI VỠ NON [2] [5] [8] [14] [17]

1.     Xác định tuổi thai

2.     Xác định ối vỡ:

  • Bệnh sử ra nước âm đạo: đột ngột ra nước lượng nhiều, loãng, màu trong hoặc lợn cợn đục → tiếp tục rỉ rả
  • Thời điểm và thời gian vỡ ối
  • Xác định nước ối:

(1) Nghiệm pháp Valsalva hoặc ho: khi đặt mỏ vịt, cho sản phụ rặn hoặc ho sẽ quan sát thấy có nước ối chảy ra từ lỗ trong cổ tử cung.

(2) Nitrazine test:

o    Thực hiện khi quan sát không thấy rõ có nước ối chảy ra hay không khi thực hiện nghiệm pháp nói trên.

o    Đặt mỏ vịt, lau sạch âm đạo, cho sản phụ rặn hoặc ho sau đó dùng tăm bông hay kềm kẹp một mẫu gòn vô trùng nhúng vào dịch đọng ở túi cùng sau âm đạo rồi phết lên giấy thử Nitrazine.

o    pH của dịch âm đạo có tính acid (pH = 4,4 – 5,5) khác với pH nước ối mang tính kiềm (pH = 7 – 7,5). Nếu có ối vỡ, nước ối chảy vào âm đạo sẽ làm pH của dịch âm đạo trở nên kiềm hóa và sẽ làm đổi màu giấy thử từ màu vàng sang màu xanh.

o    (+) giả trong trường hợp có lẫn máu, tinh dịch, Trichomonas, dịch nhầy ở cổ tử cung, các dung dịch sát khuẩn có tính kiềm và nước tiểu.

(3) Chứng nghiệm kết tinh hình lá dương xỉ:

o    dùng que gòn nhỏ quệt vào túi cùng sau âm đạo rồi phết lên một phiến kính, để khô rồi quan sát dưới kính hiển vi.

o    Sự hiện diện của hình ảnh dương xỉ giúp chẩn đoán xác định PROM với độ nhạy khoảng 96%.

o    (-) giả: máu

o    (+) giả: phết dịch nhầy ở cổ ngoài hoặc có lẫn tinh dịch

(4) Tìm các thành phần trong nước ối (không thông dụng lắm trong sản khoa thực hành). Soi dưới kính hiển vi tìm chất gây, lông tóc của thai nhi, hoặc nhuộm với các phẩm nhuộm đặt biệt để tìm các tế bào biểu bì của thai.

(5) Bơm chất chỉ thị màu indigo carmine vào buồng ối: sau khi bơm khoảng 1 ml Indigo carmine pha loãng vào trong buồng ối dưới hướng dẫn của siêu âm, nếu có ối vỡ khoảng 2 – 4 giờ sau sẽ quan sát có dịch màu xanh chảy ra trong âm đạo. Thử nghiệm này không nên chỉ định thường quy vì làm tăng nguy cơ nhiễm trùng ối,… thực tế người ta có thể thực hiện thử nghiệm này trong trường hợp cần truyền ối để điều trị thiểu ối ở những thai non tháng cần dưỡng thai và cần loại trừ có vỡ ối kèm theo.[8] [5]

(6) Siêu âm:

o    Chẩn đoán + theo dõi lượng ối thông qua chỉ số ối (AFI) →  thiểu ối hoặc vô ối.

o    Ước lượng cân nặng, xác định ngôi thai, vị trí dây rốn và những bất thường khác.

3.     Xác định nhiễm trùng ối [4] [17]:

  • Sốt, mạch nhanh, bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân trung tính tăng, CRP tăng → nghi ngờ nhiễm trùng
  • Chọc ối khi nghi ngờ nhiễm trùng ối (tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nhiễm trùng ối)

o    Xét nghiệm sinh hóa, tế bào: đường giảm, vi khuẩn (+), bạch cầu tăng

o    Cấy dịch ối → kháng sinh đồ

o    Xác định độ trưởng thành phổi

4.     Xác định nguyên nhân:

Theo thạc sĩ – Bác sĩ Bùi Chí Thương, giảng viên Bộ môn Sản phụ khoa, trường Đại học Y Dược TP. HCM, cho biết:“Các nguyên nhân gây ra vỡ ối non như ngôi thai bất thường, khung chậu hẹp, rau tiền đạo, đa thai, đa ối, hở eo tử cung, viêm màng ối do viêm nhiễm phụ khoa. Nhiều thai phụ xem nhẹ việc khám phụ khoa và chữa trị viêm nhiễm trong thai kỳ. Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn di chuyển từ âm đạo lên tử cung, xâm nhập màng ối gây vỡ ối non. Chấn thương do khám phụ khoa hoặc quan hệ tình dục trong ba tháng cuối không đúng cách, cũng có thể gây vỡ ối non”.

Ngoài ra, theo nhiều nghiên cứu, người mẹ ăn uống thiếu dinh dưỡng và vitamin C cũng dẫn đến vỡ ối sớm. Vitamin C với bioflavanoid (vitamin P), kẽm có khả năng làm túi ối chắc hơn.

Ngoài việc hỏi về các triệu chứng gợi ý nhân viên y tế cần làm thêm các việc sau để xác định nguyên nhân vỡ ối sớm.

  • Sờ xem tử cung có co cứng (rau bong non, viêm màng ối).
  • Theo dõi nhịp tim thai qua biểu đồ tim thai, nhịp tim thai nhanh hoặc nhịp tim thai bất định là dấu hiệu của viêm màng ối, rau bong non, chèn ép dây rốn.
  • Tổng phân tích nước tiểu cũng như cấy nước tiểu.
  • Cấy dịch ở cổ tử cung tìm Chlamyda và lậu; cấy dịch âm đạo, hậu môn, đặc biệt là Streptococci

5.     Lưu ý: hạn chế thăm khám âm đạo  khám âm đạo bằng tay làm nhanh vào chuyển dạ nhưng lại làm tăng nguy cơ nhiễm trùng sơ sinh.

→ Siêu âm đầu dò âm đạo có thể dùng an toàn để đánh giá tình trạng cổ tử cung ở bệnh nhân ối vỡ non mà không làm tăng nguy cơ nhiễm trùng ối.

CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC: Chỉ cần hỏi bệnh sử, làm thử nghiệm Nitrazine, chứng nhận kết tinh lá dương xỉ thì chẩn đoán chính xác lên đến 93,1%

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

(1) Són tiểu: Thường thì không ra nước nhiều và cũng không rỉ rả liên tục như trong vỡ ối. Ngoài ra nước tiểu có mùi khai và có pH acid.

(2) Huyết trắng: Đôi khi nhiều và loãng làm dễ lầm với vỡ ối. Phân biệt bằng cách hỏi bệnh sử kỹ và khám lâm sàng cẩn thận.

(3) Dịch nhầy cổ tử cung: Ở giai đoạn cuối thai kỳ hoặc bắt đầu chuyển dạ, cổ tử cung hé mở sẽ tống xuất chất niêm dịch ở cổ tử cung ra ngoài: nhầy, dai và thường có lẫn ít máu hồng.

XỬ TRÍ [2] [5] [8] [14]

THAI 24 – 31 TUẦN: Cố gắng dưỡng thai

1.     Corticosteroids [10] [18]

  • Tiêm bắp Betamethasone 12mg/24 giờ x 2 ngày hoặc Dexamethasone 6mg/ 12 giờ x 2 ngày.
  • Sử dụng trên 2 đợt có thể gây giảm cân nặng thai nhi, giảm chu vi vòng đầu và chiều dài cơ thể

2.     Quản lý nhiễm trùng [4] [5] [8] [14] [17]:

  • Cấy dịch cổ tử cung, âm đạo, hậu môn
  • Việc sử dụng kháng sinh bên cạnh hiệu quả ngăn ngừa nhiễm trùng cho cả mẹ và thai đã được chứng minh là giảm tỉ lệ viêm nội mạc tử cung hậu sản 43%, giảm tỉ lệ nhiễm trùng bào thai là 32%, mà còn làm giảm tỉ lệ chuyển dạ do đó được khuyến cáo sử dụng thường quy trong trường hợp cần kéo dài thai kì khi ối vỡ non để kích thích trưởng thành phổi thai. [11] [12] [18]
  • Kháng sinh phổ rộng:

o    Tiêm mạch 2g Ampicillin hoặc 250mg Erythromycin mỗi 6 giờ trong 48 giờ sau đó chuyển sang uống 250mg Amoxicillin hoặc 333mg Erythromycin mỗi 8 giờ/ 5ngày.

o    Hoặc tiêm mạch 1 – 2g Ampicillin mỗi 6 giờ trong 24 giờ sau đó chuyển sang uống 500mg mỗi 6 giờ trong 6 ngày.

o    Hoặc Erythromycin 333mg mỗi 8 giờ trong 7 ngày.

o    Nếu có chỉ định mổ lấy thai do nhiễm trùng ối → nên phối hợp thêm Clindamycin mỗi 8 giờ → diệt vi khuẩn kị khí

o    Không đủ dữ kiện để so sánh phác đồ nào tốt hơn tuy nhiên nhóm Macrolid (Erythromycin) dường như là an toàn hơn nhóm beta-lactam, đặc biệt là nếu sử dụng Amoxicillin và clavulanic làm tăng đáng kể tỉ lệ viêm ruột hoại tử về sau ở trẻ non tháng [8] [11] [16]

o    Hiện nay các nghiên cứu đều đồng thuận sử dụng kháng sinh không nên quá 7 ngày, vì việc kéo dài thời gian sử dụng kháng sinh ở những thai kỳ này là không cần thiết, mà còn làm chọn lọc dòng vi khuẩn kháng thuốc.

  • Hạn chế thăm khám bằng tay → có thể theo dõi bằng khám mỏ vịt
  • Theo dõi mẹ:

o    Nghỉ ngơi, đóng băng vệ sinh sạch

o    Theo dõi sinh hiệu 4 lần/ngày

o    Huyết đồ, CRP + cấy dịch âm đạo kiểm 1 – 3 lần/tuần.

  • Theo dõi thai:

o    Theo dõi tim thai mỗi ngày 3 lần, Non-stress test mỗi 3 ngày,

o    Siêu âm đánh giá thai rau ối.

3.     Việc sử dụng thuốc giảm co ở tuổi thai này vẫn còn bàn cãi.

THAI 32 -33 TUẦN

1.     Xác định tình trạng sức khỏe của thai nhi tại thời điểm tiếp nhận

  • CTG lúc nhập viện
  • Xác định có thai chậm tăng trưởng trong tử cung hay không

2.     Corticosteroids

3.     Quản lý nhiễm trùng

4.     Hạn chế thăm khám bằng tay, nên khám bằng mỏ vịt để tránh nhiễm trùng.

5.     Thuốc giảm co [1] [3]:

  • Chỉ sử dụng giảm co trong vòng 48 giờ để chờ đủ liều betene
  • Sử dụng kéo dài thuốc giảm co:

o    Không cải thiện được kết cuộc chu sinh: không làm kéo dài thai kì

o    Tăng nguy cơ nhiễm trùng ối và viêm nội mạc tử cung

o    Tăng các nguy cơ của ối vỡ lâu: nhiễm trùng sơ sinh, rau bong non, suy thai, biến dạng chi, thiểu sản phổi và thai chết…

  • Khởi phát chuyển dạ khi có đủ bằng chứng trưởng thành phổi

34 – 36 TUẦN

1.     Xác định tình trạng sức khỏe của thai nhi tại thời điểm tiếp nhận

  • CTG lúc nhập viện

Xác định có thai chậm tăng trưởng trong tử cung hay không

2.     Corticosteroids: không khuyến cáo → Number Needed to Treat là 95 chứng tỏ hiệu quả của corticoid trong tuổi thai này là không cao, do đó Corticosteroids sau tuần lễ thứ 34 thì không được đề nghị trừ khi có bằng chứng là phổi thai nhi chưa trưởng thành qua kết quả chọc dò ối.

3.     Chấm dứt thai kì:

  • Hầu hết bệnh nhân (90%) sẽ vào chuyển dạ tự nhiên trong vòng 24 giờ sau khi vỡ ối.

Chờ chuyển dạ tự nhiên hay khởi phát chuyển dạ tùy thuộc mong muốn của bệnh nhân. Nên tư vấn với bệnh nhân việc kéo dài thai kì có nguy cơ nhiễm trùng tử cung và viêm màng ối, thiểu ối, rau bong non, suy thai, thiểu sản phổi, biến dạng chi,… Nếu có đủ bằng chứng trưởng thành phổi thì chấm dứt thai kì ngay.

4.     Nếu dưỡng thai  Quản lý nhiễm trùng (tương tự như trên)

5.     Thuốc giảm co: không có chỉ định đối với thai kì > 36 tuần

THAI ≥ 37 TUẦN:

  • ACOG 2009 khuyến cáo chấm dứt thai kỳ đối với thai >37 tuần bị vỡ ối sớm, không đợi 12 – 24 giờ nhằm giảm biến chứng cho mẹ và thai. Nên khởi phát chuyển dạ ngay trong 6 – 12 giờ hoặc nếu thuận lợi thì nên chấm dứt thai kì càng sớm càng tốt.

Chấm dứt thai kì tùy tình trạng cổ tử cung, ngôi thai, tình trạng thai, có nhiễm trùng hay không và mong muốn của bệnh nhân.

o    Ngôi bất thường hoặc có những bằng chứng cho thấy thai nhi không chịu nổi cuộc chuyển dạ → mổ lấy thai

o    Nếu có bằng chứng nhiễm trùng trên lâm sàng và không có chống chỉ định sinh đường âm đạo, cho kháng sinh và khởi phát chuyển dạ ngay lập tức.

o    Khi cổ tử cung thuận lợi → Đẻ chỉ huy với oxytocin.

o    Khi cổ tử cung không thuận lợi → làm chín muồi cổ tử cung

  • Đề phòng nhiễm trùng:

o    Nhanh chóng chuyển thai phụ lên tuyến có đơn vị chăm sóc trẻ non tháng nhẹ cân.

o    Chưa đủ bằng chứng kết luận về hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh thường quy khi ối vỡ ở những thai > 37 tuần: Tổng hợp từ 2 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy dùng kháng sinh làm giảm có ý nghĩa tỉ lệ viêm màng ối và nhiễm trùng hậu sản ở mẹ nhưng không hiệu quả cải thiện kết cục nhiễm trùng chu sinh. [6] [14]

o    Một số tác giả khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh để phòng ngừa tác nhân streptococcus nhóm B nếu có bằng chứng cấy (+) ở tuần 35 – 37 thai kì, hoặc vỡ màng ối > 18 giờ ở những bệnh nhân không có kết quả cấy. [7] [19]

Một số xử trí theo dõi dành cho sản phụ

1. Khi phát hiện vùng kín tiết nhiều dịch không màu, bạn không chắc chắn điều gì đang xảy ra. Do đó, bạn có thể theo dõi thêm trong khoảng 30 – 60 phút. Nếu dùng toilet, bạn nhờ người thân vệ sinh sạch sẽ trước khi sử dụng. Nên dùng khăn giấy trắng, mềm, dai, không mùi để lau vùng kín từ trước ra sau khi đi vệ sinh.

Nếu chất lỏng có màu vàng, mùi khai của nước tiểu, đó là do bạn són tiểu. Nếu bạn phải thay quần lót khoảng 2 – 3 lần mà thấy vùng kín vẫn tiếp tục rỉ dịch nhiều, không mùi khai, có màu trắng trong hoặc hồng nhạt, bạn nên đến bệnh viện ngay vì đây chính là dấu hiệu của rỉ ối.

2. Tại bệnh viện, bác sĩ sẽ lấy mẫu chất lỏng từ vùng kín của bạn và thử phản ứng trên giấy quỳ để kiểm tra độ pH của chất lỏng. Nếu là nước ối, giấy quỳ sẽ nhanh chóng chuyển màu, vì nước ối nhiều kiềm hơn các chất dịch âm đạo khác ( Thực tế trên lâm sàng hiện nay rất ít khi dùng phương pháp này, thay vào đó bác sĩ sẽ tham khám lâm sàng, siêu âm, theo dõi để chẩn đoán vỡ ối ). Khi bác sĩ đã xác định vỡ ối, tử cung mở và chỉ định sinh, bạn chớ nên hoảng sợ. Bạn làm theo hướng dẫn của bác sĩ và cần ăn uống vì sắp bước vào cuộc chuyển dạ mất nhiều sức.

3. Tuyệt đối không để có sự tiếp xúc tay vào bộ phận sinh dục. Không cho bất cứ vật gì vào âm đạo để tránh nhiễm trùng. Bạn chỉ dùng băng vệ sinh cho sản phụ và thay sau mỗi vài giờ. Đây cũng là cách giúp bạn theo dõi lượng ối ra nhiều bao nhiêu để báo với bác sĩ.

4. Uống nhiều nước hơn để bù nước ối đã mất. Trong thời gian này, bạn cũng chú ý theo dõi thai máy có đều không. Nếu không, hãy gọi nhân viên y tá ngay.

Tham khảo thêm Xử trí vỡ ối non theo " Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc SKSS – Bộ Y tế năm 2009
 

Tuyến thực hiện:   Tất cả các tuyến (theo phân tuyến kỹ thuật).
Người thực hiện:   Bác sĩ chuyên khoa sản hoặc bác sĩ được bổ túc về sản khoa; nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi (xem chi tiết trong bài).

Vỡ ối non là vỡ ối khi chưa có chuyển dạ.

1. Chẩn đoán.
–    Chưa có dấu hiệu chuyển dạ.
–    Nước ối ra tự nhiên.

2. Xử trí.

2.1. Tuyến xã
–    Tư vấn.
–    Kháng sinh.
–    Chuyển tuyến trên.

2.2. Tuyến huyện
–    Theo dõi thân nhiệt.
–    Đóng khố sạch, theo dõi lượng nước ối ra.
–    Đánh giá tuổi thai để có thái độ xử trí.
–    Siêu âm đánh giá tình trạng thai, nước ối, vị trí bánh rau.
–    Cho kháng sinh, corticoid và chuyển tuyến trên nếu thai non tháng (dưới 34 tuần tuổi). Nếu có cơn co thì cho thuốc giảm co nifedipin ngậm dưới lưỡi 10 mg trước khi chuyển
–    Nếu tuổi thai 35 tuần trở lên và tiếp tục ra nước ối sau 24 giờ thì gây chuyển dạ (xem “Các phương pháp gây chuyển dạ”).
–    Nếu nước ối không ra nữa, không sốt: siêu âm lại để xác định chỉ số nước ối là bình thường. Tiếp tục cho kháng sinh dự phòng đủ 7 ngày và cho phép sản phụ về nhà, hẹn khám lại sau 1 tuần

2.3. Tuyến tỉnh.
–    Tuổi thai trên 34 tuần: điều trị giống tuyến huyện
–    Tuổi thai từ 34 tuần trở xuống: điều trị giữ thai bằng kháng sinh dự phòng và các thuốc giảm co và cho corticoid
–    Nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn ối, đình chỉ thai ở bất kỳ tuổi thai nào.
–    Sau 34 tuần, gây chuyển dạ nếu tiếp tục ra nước ối.

Tài liệu tham khảo.

– Bài giảng sản phụ khoa Đại học Y Hà Nội

– Tham khảo tài liệu, luận văn tốt nghiệp và tài liệu nghiên cứu của bệnh viện phụ sản Trung Ương, bệnh viện Từ Dũ – Hồ Chí Minh…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Có thể bạn quan tâm