Y HỌC LỨA TUỔI

Y HỌC LỨA TUỔI

1.Những vấn đề sức khoẻ tuổi trưởng thành

1.1Tuổi trưởng thành (Adolescent):

Là thời kỳ giữa trẻ em và người lớn (10 tuổi-21 tuổi), đây là thời kỳ phát triển nhanh của cơ thể, thể lực, trí tuệ, tâm lý… chịu nhiều tác động của kinh tế, xã hội, môi trường.

+ Dây thì (puberty): dưới sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương thông qua trục dưới đồi thị-tuyến yên-tuyến sinh dục, phát triển cơ thể, hê cơ xương, giới tính, các hormon sinh dục phát triển mạnh thông qua tăng hoạt động tuyến thượng thận và sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn). ở nữ phát triển ngực và lông sinh dục. Nữ dậy thì ở tuổi 11,2 ± 1,6 năm; nam bắt đầu dậy thì ở tuổi 11,6 ± 1,1 năm.

+ Phát triển chiều cao: trung bình nữ 9,0 ± 1,03cm/năm từ 12 đến 16 tuổi cao trung bình là 163 cm; ở nam 10,3 ± 1,54cm/năm, từ 14-18 tuổi cao trung bình chiều cao 177cm (còn phụ thuộc giống nòi, chủng tộc, cá thể…).

+ Tăng trọng lượng cơ thể: giai đoạn nâng trọng lượng cơ thể tăng 40% trọng lượng ở cuối thời kỳ dậy thì.

+ Tim-phổi: tăng hình thái và chức năng để đáp ứng phát triển cơ thể và hoạt động.

+ Phát triển tinh thần: phụ thuộc gia đình, xã hội, giới tính, quá trình giáo dục… ở cả 3 giai đoạn của tuổi trưởng thành:

           Giai đoạn đầu 10-13 tuổi: hình thành các khái niệm nhận thức .

           Giai đoạn giữa 14-16 tuổi: kiểm định thực tế về nhận thức.

           Giai đoạn cuối 17-21 tuổi: hình thành chí hướng cuộc sống.

+ Biến đổi tinh thần phối hợp với hormon sinh dục cả nam giới và nữ giới đã có xu hướng tư duy độc lập; kèm gắn bó với cha-mẹ là do tăng hormon androgen ở thượng thận.

+ Những biến đổi của môi trưòng, xã hội ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ, những yếu tố quan trọng là muốn tự do, tự chủ trong gia đình, nhưng lại có những gánh nặng mới: các bậc học phổ thông, đại học, bạn bè đồng nghiệp mới…

+ Luật pháp của hầu hết các nước yêu cầu bố mẹ nuôi dạy con đến 18 tuổi, vì vây gia đình đã là một rào ngăn cản từ do nhiều mặt của tuổi trưởng thành (chơi bời, học hành, tình dục, hội họp, đua tranh…) đó là nhiệm vụ của tuổi trưởng thành,

nhưng ở tuổi trưởng thành chưa đủ nhân thức để tiếp nhận đúng đắn, vì vây gia đình và trường học vẫn đóng vai trò chủ yếu trong nuôi dạy ở tuổi trưởng thành.

1.2.Tử vong và sống sót:

+ Tử vong: tỷ lệ tử vong thấp ở tuổi trưởng thành, nhưng từ 1985 đến nay tỷ lệ này đang tăng lên ở Mỹ:

         10-14 tuổi: 26/100.000.

         15-19 tuổi: 88/100.000.

         20-24 tuổi: 110/100.000.

Nguyên nhân tử vong hay gặp là tai nạn motor và nghiêm rượu, tử vong ở nam cao hơn nữ, da đen cao hơn da trắng, tử vong do nguyên nhân tim mạch 1,4-4,1%, bệnh ác tính 3,1-5,5 ngưòi/100.000 dân tuổi 10-24.

+ Sống sót sau một số tình trạng có thể ở tuổi trưởng thành.

–     Cơ thể phát triển nhanh béo, lao, u xương sụn, gãy xương… thưòng gặp ở tuổi trưởng thành.

–      Phụ nữ trẻ tuổi:

.     Kinh nguyệt: chảy máu tử cung kéo dài do tăng estrogen, phụ nữ trẻ có thai, căng thẳng tâm lý, tăng trọng nhanh, bệnh       mạn tính, nghiện, rối loạn đông máu, bênh tử cung, buồng trứng, âm đạo, chu kỳ kinh nguyệt có thể kéo dài tới 5 năm..       Rong kinh:

             Tiên phát: do prostaglandin kích thích cơ tử cung co bóp trong chu kỳ kinh nguyệt.

             Thứ phát: do nhiễm khuẩn cơ quan trong khung chậu, chấn thương kín. chửa ngoài tử cung…

.     Bênh lây theo đường tình dục: gây nhiều biến chứng viêm, xẩy thai, thai lạc chỗ, ung thư… nguyên nhân chủ yếu do             AIDS.

–     Nam giới: viêm tinh hoàn, dãn tĩnh mạch mào tinh hoàn, ung thư, teo tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ – nhiều trường hợp cần phẫu thuật.

1.2.Yếu tố nguy cơ:

Hay gặp nhất ở tuổi trưởng thành là:

–      Lạm dụng chất gây nghiện.

–     Lối sống: hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, đua xe và nhiều tệ nạn xã hội khác.

1.3. Những vấn đề trí lực:

Khoảng 10% tuổi trưởng thành có những rối loạn tâm lý, tâm thần, trầm cảm, tâm thần phân liệt.

+ Khủng hoảng trí lực:

        Nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ được bản thân do: thuốc lá, rượu, luật pháp, sống đơn độc, chương trình học           ở trường quá nặng, cảnh sống trong gia đình, lo vợ chồng, có thai, thấp bé do thiểu sản sụn, lo kinh tế…

        Biểu hiện chủ yếu bằng các trạng thái trầm cảm, giảm hy vọng, giảm ý chí, phàn nàn cuộc sống, không yên tâm với             công việc, rối loạn tình dục…những tr­ường hợp này cần đến bác sĩ tâm lý, tâm thần khám và đặt chương trình điều trị           thích hợp hoặc tư vấn qua điện thoại.

+ Rối loạn ăn uống:

       Có 2 trạng thái ngược: ăn nhiều gây béo phì, quá kiêng khem, chán ăn gây thiếu cân phát bị các bệnh mạn tính.

1.4.Thăm khám làm sàng ở người trưởng thành:

–     Bệnh sử: tuổi trưởng thành thường giữ bí mật, ít cởi mở vì vậy tâm lý tiếp xúc là rất quan trọng, cũng như lứa tuổi khác    cần hỏi toàn diện, nhưng ở tuổi trưởng thành tập trung vào 3 chủ đề chính:

. Sử dụng các chất gây nghiện.

. Tình dục.

. Trầm cảm.

– Tiền sử:

Khai thác các bênh: sởi, thương hàn, bạch cầu, rubella, viêm gan A-B.

–  Khám bênh: căn cứ vào tình trạng cụ thể mà tập trung khám thực thể và đưa ra các xét nghiêm cần thiết.

2.Y học tuổi già

2.1.  Sinh học của lứa tuổi: hiên nay hầu hết tuổi sống vượt quá 65.

Tuổi già tăng sự cấu trúc bất thường của chromosome, ADN, ty lạp thể tế bào và nhiều thành phần khác, nên nhiều protein được tổng hợp cũng biến đổi cấu trúc.

–     Tuổi già giảm khả năng thích ứng vói môi trường và các yếu tố nguy cơ. Giảm khả năng tạo các tế bào có thẩm quyền miễn dịch và kháng thể đặc hiệu.

–     Giảm nhu cầu năng lượng cung cấp, cần bổ sung thêm vitamin, chống chất thừa ôxy hoá (anti oxydance).

2.2. Nguyên lý của y học tuổi già.

Quá trình bệnh lý ở tuổi già có những nguyên lý riêng:

–      Tính riêng biệt của từng người khác nhau:

. Biểu hiện bệnh nặng vì hình thái và chức năng của các cơ quan đã suy giảm do tuổi.

. Lứa tuổi già đã chịu tác động kéo dài của nhiều nguy cơ: tăng huyết áp, hút thuốc, chất gây nghiện.

. Bệnh nặng vì rối loạn cầm-đông máu.

Thời gian kéo dài cuộc sống của người già cũng phụ thuộc vào lứa tuổi:

      65 tuổi    có   thể sống kéo              dài thêm  > 17 năm.

      75 tuổi    có    thể sống kéo              dài thêm  > 11 năm.

      85 tuổi    có   thể sống kéo              dài thêm  > 6 năm.

     90 tuổi    có   thể sống kéo              dài thêm  > 4 năm.

     100 tuổi có thể sống kéo dài thêm > 2 năm.

Những người 80 tuổi có 35% không tự làm được những việc phục vụ mình hàng ngày, 20% cần chăm sóc y tế tại nhà, cần người phục vụ.

–     Biểu hiện bệnh ở người già cũng khác người trẻ, ví dụ khi người già có hội chứng cường chức năng tuyến giáp triệu chứng sau đây nặng hơn người trẻ: run đầu chi, rung nhĩ, trầm cảm, ngất, yếu cơ…

–       Biến chứng của bệnh cũng nặng hơn vì đã bị hội chứng tắc niệu do phì đại tiền liệt tuyến, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu xẩy ra sớm và nặng khi glucose máu chưa quá cao, tác dụng ngoại ý xẩy ra sớm khi mới điều trị lợi tiểu liều thấp.

–      Rối loạn đông cầm máu nặng.

–     Hay gặp các bệnh: nhiễm khuẩn, ngoại tâm thu thất, gãy xương, giảm dung nạp glucose, rối loạn co bóp bàng quang.

–     Mỗi hội chứng bênh ở ngưòi già do nhiều nguyên nhân như: sốt, thiếu máu, tắc động mạch đáy mắt, tiếng thổi ở tim, giảm phản xạ, tắc mỡ, xơ vôi hoá van động mạch chủ, nhiễm virus…

–     Tác dụng ngoại ý hay gặp khi dùng các thuốc điều trị: tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ cơ tim, loãng xương…

2.3.Điều trị bệnh người già:

Tập trung điều trị những bênh ngưòi già hay mắc như:

–      Suy giảm trí tuệ.

–      Trầm cảm.

–      Tắc đường niệu.

–      Biến chứng của bất động.

2.4. Dự phòng:

–      Dự phòng đột qụy ở người có tăng huyết áp.

–      Rối loạn chức năng tim.

–      Suy thận.

–      Gãy xương do loãng xương, xẹp đốt sống.

–      Nhiễm khuẩn.

Tóm lại:

Khi cơ thể vượt qua được tuổi thiếu niên, tuổi trưởng thành thì tuổi già lại đến.

Tuổi già thuộc giai đoạn 3 của cuộc sống, các tế' bào cơ thể sẽ chết theo ch­ương trình, làm cho sức khoẻ suy giảm dần cho đến tử vong.

Nếu ở tuổi già lại bị bệnh nào đó sẽ thúc đẩy quá trình trên "Sinh-Lão-Bệnh- Tử”. Vì vậy y học cần có những biên pháp dự phòng, chẩn đoán, điều trị sớm. Kết hợp với các chính sách kinh tế xã hội mới hy vọng nâng cao sức khoẻ, có nghĩa là nâng cao tuổi thọ của con ngưòi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Có thể bạn quan tâm