Bệnh hạch bạch huyết

Bệnh hạch bạch huyết

phi dai hach co

phì đại hạch cổ

1.Mô tả

Sự phì đại các hạch lympho, có thể sờ hoặc nhìn thấy.

2.tình trạng liên quan

Có thể xuất hiện như một phần trong hình ảnh lâm sàng của hàng trăm rối loạn khác nhau. MIAMI là một từ viết tắt giúp dễ nhớ các nhóm nguyên nhân chính của bệnh hạch bạch huyết (Bảng 4.4) gồm có: Malignancy (ác tính), Infectious (nhiễm trùng), Autoimmune (tự miễn), Miscellaneous (hỗn hợp, phức tạp), và Iatrogenic (do điều trị).

3.cơ chế

Nhìn chung, phần lớn các tình trạng gây bệnh tuyến lympho qua:

1. Sự truyền một đáp ứng viêm có tính hệ thống, khu trú hay trực tiếp.

2. Sự xâm lấn và/hoặc tăng sinh của các tế bào bất thường hay ác tính.

Ác tính: Gây phì đại tuyến lympho bằng cách xâm lấn hay rò rỉ các tế bào ác tính vào trong hạch lympho hoặc tăng sinh trực tiếp các tế bào ác tính trong đó.

Hệ thống bạch huyết có cơ chế cho sự di căn xa các tế bào của nhiều loại ung thư rắn (solid-tumour cancer) khác nhau (như đại trực tràng, buồng trứng, tuyến tiền liệt). Các tế bào u di chuyển từ vị trí khối u chính qua hệ thống bạch huyết để tới các hạch lympho, nơi chúng tích lũy lại và/hoặc tăng sinh, làm phì đại hạch lympho.

Trong u lympho, sự tăng sinh bất thường của các tế bào lympho trong hạch lympho, liên quan đến sự quá sản của các cấu trúc bình thường, dẫn đến Lymphadenopathy.

Nguyên nhân phì đại hạch lympho

Nhiễm trùng: Hệ lympho là trung tâm chức năng của hệ miễn dịch. Các đại thực bào và các tế bào trình diện kháng nguyên khác di chuyển đến các hạch lympho, để trình diện kháng nguyên cho các tế bào T và B. Khi nhận diện được các kháng nguyên, các tế bào T và B tăng sinh trong các hạch lympho để khởi phát một đáp ứng miễn dịch hiệu quả. Phì đại tuyến lympho thấy trong nhiễm trùng (hệ thống hay khu trú) có thể coi như sự tăng cường đáp ứng miễn dịch bình thường.

Trong trường hợp xâm nhiễm trực tiếp (direct invasion), một hạch lympho đơn độc bị nhiễm vi khuẩn hay dạng kháng nguyên nào khác. Đáp ứng miễn dịch sẽ làm quá sản (hyperplasia) cấu trúc hạch. Sự tăng sinh tế bào T và B cùng với sự thâm nhiễm các tế bào miễn dịch khác giúp chống lại sự nhiễm trùng. Quá trình này dẫn đến viêm và sưng hạch, dẫn tới dấu hiệu phì đại.

Trong nhiễm trùng hệ thống, phản ứng quá sản cũng có thể xảy ra. Đáp ứng với kháng nguyên kích thích (nội bào hay ngoại bào) được mang đến hạch lympho trình diện với tế bào T và B, các tế bào lympho và các tế bào khác trong hạch cùng tăng sinh, dẫn đến phì đại hạch lympho.

Tự miễn: Các nguyên nhân tự miễn tương tự như nguyên nhân nhiễm trùng, ngoại trừ kháng nguyên ở đây là của chính cơ thể và đáp ứng viêm là một sự sai sót. Sự tăng sinh tế bào B thường thấy trong các hạch lympho ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, trong khi tăng sinh tế bào T hay gặp ở bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE).

4.giá trị triệu chứng

Với rất nhiều nguyên nhân tiềm năng, độ đặc hiệu của dấu hiệu phải bị giới hạn. Vấn đề chính đối với nhà lâm sang là xác định khả năng đây là một

nguyên nhân lành tính, như nhiễm trùng, hay cái gì đó ác tính.

Một vài tính chất khiến ta phải nghi ngờ đó là ác tính. Một bài tổng quan36 các nghiên cứu cho thấy một số đặc điểm hạch trong chẩn đoán bệnh ác

tính hay các bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn khác (Bảng 4.5) có độ đặc hiệu cao hơn độ nhạy.Nghĩa là, nếu những tính chất này xuất hiện sẽ gợi ý một bệnh nguyên nghiêm trọng tiềm ẩn, nhưng nếu không có những đặc tính này thì cũng không thể loại trừ được.

Thời gian kéo dài của Lymphadenopathy cũng được sử dụng như một chỉ thị cho bệnh ác tính. Thời gian ngắn thì nhiều khả năng là do nguyên nhân nhiễm trùng trong khi thời gian dài gợi ý nguyên nhân ác tính.

Trong một nghiên cứu 457 trẻ em có phì đại hạch lympho, 98,2% Lymphadenopathy cấp là do nguyên nhân lánh tính và ác tính ở phần lớn các trường hợp liên quan đến mạn tính và phì đại nhiều hơn 2 nhóm hạch lympho (không kề nhau).

Hạch đau và hạch không đauMột điều thường được dạy là các hạch đau dễ là do phản ứng và liên quan đến quá trình viêm còn các hạch không đau thì có khả năng là do ác tính. Tuy nhiên các bằng chứng cho giả thuyết này còn giới hạn

Hạch Virchow- chỉ có ở bệnh lý ác tính đường tiêu hóa? Hạch Virchow cho thấy phì đại hạch thượng đòn và thường được dạy như một dấu hiệu kinh điển cho bệnh ác tính đường tiêu hóa, nhưng các nghiên cứu gần đây đã cho thấy nhiều mối liên quan hơn thế.

Cơ chếHạch Virchow nằm ở chỗ kết thúc của ống ngực. Giả thuyết được chấp nhận là các tế bào lympho ác tính từ hệ tiêu hóa di chuyển qua ống ngực và được giữ lại ở hạch Virchow.

 Tình trạng liên quanCác nghiên cứu đến nay cho thấy hạch Virchow có thể xuất hiện trong:

  • Ung thư phổi- phổ biến nhất.
  • Ung thư tụy.
  • Ung thư thực quản.
  • Ung thư thận.
  • Ung thư buồng trứng.
  • Ung thư tinh hoàn.
  • Ung thư dạ dày.
  • Ung thư tuyến tiền liệt.
  • Ung thư cổ tử cung và tử cung.
  • Ung thư túi mật- hiếm gặp.
  • Ung thư gan.
  • Ung thư thượng thận.
  • Ung thư bàng quang.

Phì đại hạch lympho- vị trí:Vị trí phì đại hạch lympho có thể giúp xác định nguồn gốc của các tình trạng tiềm ẩn. Các giải thích chi tiết về giải phẫu của hệ lympho có thể tìm thấy ở bất cứ giáo trình giải phẫu nào.Vùng dẫn lưu liên quan với các hạch lympho khác nhau được tóm tắt ngắn gọn trong bảng 4.6.

Sử dụng những chỉ điểm giải phẫu này, các nhà lâm sàng có thể khu trú lại vùng tìm kiếm bệnh ác tính nguyên phát.

Phì đại đa hạch:Phì đại đa hạch tức là phì đại từ hai nhóm hạch lympho trở lên. Tình trạng này thường gây ra bởi các rối loạn hệ thống, như tên gọi, ảnh hưởng đến không chỉ một vùng cơ thể. Những trường hợp như u lympho, leukaemia, lao, HIV/AIDS, giang mai, các bệnh nhiễm trùng và các rối loạn mô liên kết (như viêm khớp dạng thấp)

Mặc dù điều này không phải là tuyệt đối nhưng nó cũng giúp các bác sĩ lâm sàng rút ngắn danh sách chẩn đoán phân biệt của mình.

gia tri hach lympho

gia tri hach lympho

vung dan luu hach lympho

vùng dẫn lưu hạch lympho

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Có thể bạn quan tâm